Tiêu chuẩn xây dựng việt nam 40-1987 kết cấu xây dựng và nền

  1. TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG VIỆT NAM


    TCXD 40:1987

    KẾT CẤU XÂY DỰNGNỀN - NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ TÍNH TOÁN


    Building structures and foundations - Basic rules for calculations​
    Tiêu-chuẩn-xây-dựng-việt-nam-40-1987-kết-cấu-xây-dựng-và-nền.jpg
    Quy định chung
    Tiêu chuẩn này quy định những nguyên tắc cơ bản về tính toán kết cấu làm bằng các vật liệu khác nhau và nền của tất cả các dạng xây dựng theo trạng thái giới hạn trên cơ sở áp dụng các phương pháp của lý thuyết xác suất và thống kê toán học.
    Tiêu chuẩn này bao gồm những nguyên tắc cơ bản về tính toán kết cấu và nền dưới tác dụng của lực. Dựa theo tiêu chuẩn này cần lập tiêu chuẩn thiết kế các kết cấu làm bằng các vật liệu khác nhau và nền nhà, công trình có chức năng khác nhau.
    1. Cơ sở tính toán
    1.1. Kết cấu xây dựng và nền cần tính tới tải trọng và tác động theo phương pháp trạng thái giới hạn.
    Cho phép tính toán kết cấu xây dựng và nền của nhà và công trình trên cơ sở những đánh giá về kinh tế theo các tài liệu chuẩn tương ứng.
    1.2. Trạng thái giới hạn là trạng thái mà trong đó kết cấu, nền, nhà hoặc công trình thoả mãn các yêu cầu cần thiết khi khai thác thác sử dụng hoặc khi thi công.
    1.3. Trạng thái giới hạn được chia thành hai nhóm:
    • Nhóm 1: Bao gồm những trạng thái giới hạn dẫn đến việc mất khả năng chịu tải, hay dẫn đến sự bất lợi hoàn toàn về mặt sử dụng kết cấu hoặc nền.
    • Nhóm 2: Bao gồm những trạng thái giới hạn gây khó khăn cho việc sử dụng bình thường kết cấu và nền.
    Trạng thái giới hạn nhóm 1 gồm:
    • Sự mất ổn định tổng thể về hình dáng.
    • Sự mất ổn định về vị trí.
    • Sự phá huỷ một đặc điểm bất kì nào đó.
    • Sự chuyển đổi thành một hệ mới.
    • Sự thay đổi hình dạng.
    • Trạng thái dẫn đến sự cần thiết phải ngừng khai thác sử dụng do vật liệu biến dạng lớn, do các mối nối bị cắt và do các vết nứt phát triển quá lớn.
    • Trạng thái giới hạn thuộc nhóm 2 gồm những trạng thái vượt quá mức cho phép
    • Sự dao động của kết cấu
    • Sự thay đổi vị trí
    • Sự tạo thành hoặc phát triển vết nứt.
    1.4. Phương pháp tính toán theo trạng thái giới hạn nhằm đảm bảo ngăn chặn khả năng vượt quá trạng thái giới hạn trong toàn bộ thời gian sử dụng kết cấu, nhà hoặc công trình cũng như quá trình thi công.
    Việc đảm bảo không vượt quá trạng thái giới hạn quy định tại điểm 1.3 phải phù hợp với mức độ an toàn của kết cấu nhà hoặc công trình.
    Những yêu cầu về tiêu chuẩn tính toán phải làm sao cho tải trọng, ứng suất, biến dạng, chuyển vị, vết nứt, v.v...không vượt quá giá trị giới hạn được quy định trong các tiêu chuẩn thiết kế các kết cấu, nền nhà và công trình.
    Trong tiêu chuẩn thiết kế kết cấu cho phép quy định những trạng thái giới hạn không yêu cầu trong quá trình tính toán.
    1.5. Khi tính toán cần phải chú ý đến các đặc trưng bất lợi có thể xẩy ra của vật liệu và đất, các giá trị bất lợi về tổ hợp tải trọng tác động và trong nhiều trường hợp cần tính đến độ sai lệch bất lợi về kích thước cũng như điều kiện thi công, sử dụng và những điều kiện làm việc đặc biệt của kết cấu và nền. Khi đó cần phải tuân theo tất cả các yêu cầu của tiêu chuẩn này và các tiêu chuẩn tương ứng khác.
    Chú thích: Các đặc trưng bất lợi có thể xảy ra là các đặc trưng tương ứng với độ đảm bảo nhất định. Các đặc trưng này được quy định trong các tiêu chuẩn thiết kế.
    1.6. Sơ đồ hay mô hình tính toán và các giả thiết cơ bản trong tính toán kết cấu và nền cần phản ánh điều kiện làm việc thực tế của công trình, phù hợp với trạng thái giới hạn đang xét. Khi đó, trong những trường hợp đã được các tiêu chuẩn thiết kế quy định, thì cần phải tính đến:
    Những yếu tố quyết định trạng thái ứng suất và biến dạng; những đặc điểm của sự tác động tương hỗ giữa các cấu kiện với nhau và với nền; sự làm việc không gian, phi tuyến tính về hình học và vật lí; tính dẻo và tính lưu biến của vật liệu và đất.
    1.7. Khi thiếu những phương pháp tính toán lí thuyết đáng tin cậy hoặc thiếu những cách giải tương tự đã được kiểm tra trước cũng như trong các trường hợp cần có luận chứng về mặt kinh tế, việc tính toán công trình cần được tiến hành trên những cơ sở nghiên cứu đặc biệt về lí thuyết hoặc thực nghiệm trên những mô hình hoặc kết cấu thực.
    1.8. Biến dạng không đàn hồi của vật liệu và đất (biến dạng dẻo, từ biến, từ biến rung), cũng như sự hình thành vết nứt trên các kết cấu bê tông cốt thép, kết cấu đá, kết cấu đá cốt thép cần được tính toán theo yêu cầu của các tiêu chuẩn thiết kế kết cấu, nền nhà và công trình.
    Nếu trong các tiêu chuẩn không quy định việc tính toán biến dạng không đàn hồi cho phép xác định nội lực do tải trọng và tác động trong các hệ số siêu tĩnh như khi kết cấu làm việc trong giai đoạn đàn hồi, khi đó các tiết diện hoặc các cấu kiện nên tính theo các tiêu chuẩn có tính đến các biến dạng không đàn hồi trong các trường hợp cần thiết.
    1.9. Khi chưa xây dựng được phương pháp xác định nội lực và ứng suất có tính đến biến dạng không đàn hồi, cho phép tiến hành tính toán cường độ của kết cấu dựa trên điều kiện là ứng suất lớn nhất do tải trọng tính toán gây ra (xác định trên giả thiết kết cấu làm việc trong giai đoạn đàn hồi) không được vượt quá cường độ tính toán tương ứng.
    2. Các đặc trưng tiêu chuẩn và đặc trưng tính toán của vật liệu và đất nền
    2.1. Các thông số cơ bản về cường độ vật liệu đối với các tác động lực là cường độ tiêu chuẩn, do tiêu chuẩn thiết kế các kết cấu xây dựng quy định có tính đến sự phân tán ngẫu nhiên các tính chất cơ học của vật liệu.
    Hệ số đảm bảo các giá trị về cường độ tiêu chuẩn của vật liệu không được nhỏ hơn 0,95 (theo ST.SEV 384 - 76, trị cụ thể sẽ được bổ sung sau).
    2.2. Giá trị cường độ tiêu chuẩn của vật liệu cho phép lấy bằng giá trị của đặc trưng vật liệu được các tiêu chuẩn quy định đối với vật liệu. Khi tiêu chuẩn không quy định những đặc trưng tương ứng, cho phép xác định cường độ vật liệu theo tiêu chuẩn thiết kế kết cấu theo các đặc trưng được quy định.
    2.3. Ngoài cường độ tiêu chuẩn cũng có thể quy định các đặc trưng tiêu chuẩn khác của vật liệu (khối lượng thể tích, môđun đàn hồi, hệ số ma sát, lực dính kết, độ từ biến, độ co ngót v.v..)bằng cách lấy giá trị trung bình của các số liệu thống kê.
    2.4. Khi tính toán kết cấu làm việc trong những điều kiện đặc biệt (nhiệt độ cao hoặc thấp, độ ẩm lớn v.v...) cần phải tính đến sự thay đổi các đặc trưng cơ lí và các đặc trưng khác của vật liệu (cường độ, độ đàn hồi, độ nhớt, độ từ biến và độ co ngót v.v...) theo yêu cầu của các tiêu chuẩn tương ứng.
    2.5. Các thông số cơ bản về các tính chất cơ học của đất quy định khả năng chịu tải của nền móng và sự biến dạng của chúng là các giá trị tiêu chuẩn của các đặc trưng về cường độ và biến dạng của đất (góc ma sát trong, lực dính kết đơn vị, môđun biến dạng, cường độ chịu nén một trục, cường độ kháng cắt của đá v.v...).
    2.6. Khi chưa xây dựng được các phương pháp tính toán tương tự bằng cách sử dụng các đặc trưng về cường độ, cho phép xác định khả năng chịu tải của nền móng bằng cách sử dụng các thông số tiêu chuẩn khác, đặc trưng cho sự tác động tương hỗ của móng với đất nền và được xác định bằng thực nghiệm.
    2.7. Trị tiêu chuẩn của các đặc trưng của đất nền hay các thông số quyết định sự tác động tương hỗ giữa móng và đất nền được lấy bằng trị trung bình của chúng.
    2.8. Trị tiêu chuẩn của các đặc trưng của đất nền hay các thông số được quy định ở điều 2.7, được xác định trên cơ sở các số liệu xác định trực tiếp khi khảo sát kỹ thuật để thiết kế công trình hoặc được xác định bằng các giá trị của các đặc trưng hoặc của các thông số trên cơ sở xử lý thống kê các kết quả thí nghiệm đại trà.
    2.9. Độ sai lệch có thể xảy ra của cường độ và các đặc trưng khác của vật liệu và đất về phía bất lợi nhất so với các trị tiêu chuẩn được tính đến bằng các hệ số độ tin cậy về vật liệu và đất.
    Các hệ số này được quy định trong các tiêu chuẩn thiết kế kết cấu và nền phụ thuộc vào các tính chất của vật liệu và của đất và phụ thuộc vào độ phân tán thống kê của chúng (với độ đảm bảo phụ thuộc vào trạng thái giới hạn), đồng thời cũng giải thích đến các yếu tố không thể xác định được bằng phương pháp thống kê (đặc trưng phá hoại của vật liệu, khuyết tật trên chiều dày vật cán, kinh nghiệm thực tế v.v...)
    2.10. Cường độ tính toán của vật liệu hoặc đặc trưng tính toán của đất nền là cường độ hoặc đặc trưng được xác định bằng cách chia cường độ hoặc đặc trưng tiêu chuẩn cho hệ số độ tin cậy về vật liệu hoặc đất. Các đặc trưng tính toán khác của vật liệu cho phép xác định bằng cách chia các trị số tiêu chuẩn của chúng cho hệ số độ tin cậy về vật liệu.

    Các file đính kèm:

    • Bạn cần like bài viết và viết bình luận để download nội dung.
  2. hoangnhauyen
    kết cấu xây dựng
  3. kstuankiet
    tính toán kết cấu xây dựng
  4. nhauyen
    tiêu chuẩn tính toán kết cấu xây dựng
    admin, hoaiphuong0703xaydungduclinh thích bài này.
  5. xaydungduclinh
    nguyên tắc cơ bản tính toán kết cấu xây dựng và nền
    adminhoaiphuong0703 thích bài này.
  6. hoaiphuong0703
    tiêu chuẩn tính toán kết cấu xây dựng và nền
    admin thích bài này.