Góp ý luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp)

Thảo luận trong 'Thông tin - Tin tức về xây dựng' bắt đầu bởi admin, 8/5/19.

  1. admin Administrator

    207 lượt xem

    Bộ Xây dựng đã có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư góp ý các vấn đề trong xây dựng Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).


    Góp ý Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).jpg
    Ảnh minh họa. (nguồn Internet)

    Phạm vi điều chỉnh và lĩnh vực đầu tư


    Hiện tại cơ sở pháp lý về đầu tư theo hình thức PPP vẫn đang được điều chỉnh tại cấp Nghị định, chưa có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và xuyên suốt tại tất cả các cấp để có thể áp dụng hiệu quả các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau trong bối cảnh ngân sách quốc gia còn hạn hẹp.
    Do đó, để đảm bảo sự thành công của tiến trình hoàn thiện thể chế về đầu tư theo hình thức PPP, mở rộng phạm vi, khả năng hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân cũng như khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tiềm năng trong nước và quốc tế, tại cấp Luật, Bộ Xây dựng đề nghị áp dụng Phương án 2 về không giới hạn lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP mà giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết triển khai các dự án đầu tư theo hình thức PPP theo từng lĩnh vực kinh tế cụ thể.
    Theo đó, việc áp dụng Phương án 2 sẽ: Tạo hành lang pháp lý cho các dự án đầu tư theo hình thức PPP trong những lĩnh vực chưa được thực hiện triển khai tại Việt Nam như hạ tầng viễn thông, phát triển đô thị, nhà ở công…; Khuyến khích nhà đầu tư nghiên cứu và đề xuất nếu hiệu quả các dự án đầu tư theo hình thức PPP trong các lĩnh vực tiềm năng, qua đó tạo sự chủ động cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác quy hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế xã hội.

    Quy mô dự án áp dụng PPP


    Việc đề xuất áp dụng dự án đầu tư theo hình thức PPP phụ thuộc vào tình hình an sinh xã hội, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội cũng như năng lực kinh tế của từng địa phương, địa điểm triển khai dự án. Theo đó, việc tính toán hiệu quả của dự án sẽ phụ thuộc vào từng lĩnh vực, thời gian và điều kiện cụ thể của từng dự án.
    Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, xác định tính hiệu quả của dự án khi quyết định áp dụng hình thức PPP, do đó việc quy định quy mô dự án tối thiểu (tổng mức đầu tư) đối với dự án đầu tư theo hình thức PPP là không phù hợp và không phản ánh được tình hình thực tế (nhiều dự án an sinh xã hội với quy mô nhỏ vẫn có thể áp dụng hình thức PPP trong bối cảnh các địa phương tại vùng sâu, vùng xa không có khả năng bố trí đủ ngân sách để tự thực hiện).
    Đối với các dự án đầu tư theo hình thức PPP có tổng mức đầu tư nhỏ, trên cơ sở phạm vi lĩnh vực quản lý Nhà nước của mình, các Bộ chuyên ngành có thể nguyên cứu xây dựng quy trình rút gọn hoặc quy trình riêng cho các dự án để đảm bảo hiệu quả đầu tư của dự án.
    Vì vậy, Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng Phương án 2 không quy định quy mô dự án tối thiểu và có quy trình riêng cho các dự án quy mô nhỏ.

    Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP


    Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP không phụ thuộc vào việc lựa chọn phương án về phạm vi điều chỉnh lĩnh vực đầu tư trong xây dựng luật này. Theo đó, đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, cân nhắc theo hướng điều chỉnh Phương án 1 để giảm số lượng các dự án PPP phải thông qua Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư, qua đó tăng cường phân cấp, tạo sự chủ động, tự chịu trách nhiệm cho các Bộ, ngành địa phương; thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP cần tuân thủ với quy định của Luật Đầu tư công.

    Áp dụng loại hợp đồng PPP


    Về nguyên tắc áp dụng hợp đồng, theo quan điểm của Bộ Xây dựng, nguyên tắc áp dụng hợp đồng PPP theo đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được xây dựng trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai thực tế của phần lớn các dự án đầu tư đường bộ theo hình thức BOT. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực khác, việc áp dụng nguyên tắc này chưa hoàn toàn phù hợp. Ví dụ, khi đầu tư mới hệ thống cấp nước sách, người dân có thêm một sự lựa chọn và nhà đầu tư có thể thu phí thực hiện từ người dân theo nhu cầu sử dụng; hoặc khi cải tạo, nâng cấp, mở rộng sân bay, bến xe, nhà máy xử lý rác hiện hữu… mà người dân chỉ có một sự lựa chọn duy nhất thì vẫn phải trả phí cho các cơ sở hạ tầng được nâng cấp, cải tạo này.

    Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị cần nghiên cứu thêm về nguyên tắc áp dụng đối với từng lĩnh vực đầu tư để có quy định cho phù hợp hoặc giới hạn ở một số lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực đường bộ…
    Về các loại hợp đồng được áp dụng trong Luật, việc quy định đa dạng các loại hợp đồng sẽ tạo cơ sở pháp lý và điều kiện linh hoạt trong quá trình áp dụng Luật và triển khai thực tế các dự án đầu tư theo hình thức PPP. Vấn đề mấu chốt là cấp quyết định đầu tư cần nghiên cứu, đánh giá và quyết định loại hợp đồng phù hợp với bản chất, điều kiện thực tiễn của từng dự án qua đó đảm bảo hiệu quả đầu tư, thu hút được tối đa nguồn lực xã hội phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước.
    Vì vậy, Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng Phương án 2 nâng cấp quy định của Nghị định số 63/2018/NĐ-CP theo hướng quy định đa dạng các loại hợp đồng và được đề xuất các loại hợp đồng khác nhau trên cơ sở bản chất và điều kiện thực tiễn của từng dự án đầu tư theo hình thức PPP.
    Đối với loại hợp đồng BT, Bộ Xây dựng đề xuất tiếp tục thực hiện hợp đồng BT do hiện tại nhiều địa phương có ngân sách hạn chế, có nhu cầu sử dụng tài sản công để huy động nguồn lực tư nhân đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế xã hội.
    Để đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý tài sản công, tạo sân chơi minh bạch và công bằng giữa các chủ thể, và thu hút, khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào các dự án đầu tư theo hình thức BT trên cơ sở tận dụng tối đa các lợi thế của mình (về xây dựng dự án BT, phát triển dự án đối ứng để hoàn vốn), Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng Phương án 2 thực hiện kết hợp đồng thời đấu giá đất và đấu giá công trình BT theo hướng: Thực hiện định giá và đấu giá đất trên cơ sở tuân thủ với các tiêu chí, quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Theo đó, nhà đầu tư có đề xuất phần chênh lệch lớn giữa giá đất và chi phí đầu tư xây dựng dự án BT, phù hợp với quy hoạch, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho Nhà nước thì sẽ được lựa chọn để đàm phán hợp đồng theo quy định hiện hành.
    Việc triển khai thực hiện hợp đồng sẽ được thực hiện trên cơ sở các điều khoản hợp đồng đã ký kết giữa các bên, theo đó giá trị quỹ đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… cần được xác định cụ thể tại hợp đồng và không cần xác định lại thời điểm giao đất, cho thuê đất để đảm bảo tính hiệu lực của quá trình đấu thầu, đấu giá cũng như những cam kết pháp lý đã được thống nhất giữa các bên.

    Nguồn vốn của Nhà nước trong dự án PPP


    Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng Phương án 2 do việc thành lập Quỹ phát triển các dự án PPP theo đề xuất tại Phương án 1 đối với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam là chưa khả thi. Mô hình thành lập Quỹ phát triển mặc dù sẽ mang lại tính chủ động, linh hoạt trong việc điều tiết, quản lý các dự án đầu tư theo hình thức PPP, tuy nhiên việc vận hành, quản lý mô hình Quỹ tại Việt Nam hiện tại chưa thực sự mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, vẫn tồn tại nhiều bất cập, rủi ro dẫn đến thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước.
    Tuy nhiên, việc áp dụng Phương án 2 chỉ được thực hiện trên cơ sở: Nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng của các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng các quy định riêng đối với việc lập, thẩm định và phế duyệt nguồn vốn sử dụng theo kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và kế hoạch tài chính – ngân sách (Bộ Tài chính) của các dự án đầu tư theo hình thức PP; Đảm bảo thống nhất, đồng bộ và hướng dẫn cụ thể, nhằm tránh các vướng mắc, bất cập có thể phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức PPP sử dụng cả hai nguồn vốn (nếu có).

    Bảo lãnh Chính phủ


    Bảo lãnh Chính phủ là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo tính khả thi, thu hút nhà đầu tư tiềm năng tham gia vào các dự án đầu tư theo hình thức PPP thông qua một có chế chia sẻ rủi ro phù hợp. Theo đó, cần phân định rõ việc bảo lãnh Chính phủ chỉ nên áp dụng đối với những rủi ro bất khả kháng, những rủi ro thuộc phạm vi trách nhiệm của Chính phủ để tránh tình trạng trục lợi, không minh bạch, thiếu trách nhiệm trong triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức PPP. Trên nguyên tắc đó Bộ Xây dựng đề xuất như sau:
    Về bảo lãnh doanh thu tối thiểu: Cần phân định rõ giữa các mục tiêu về đảm bảo an sinh xã hội và các mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội qua đó đánh giá áp dụng các hình thức xã hội hóa hoặc đầu tư theo hình thức PPP một cách phù hợp. Theo đó, Bộ Xây dựng đề xuất nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo lãnh doanh thu tối thiểu theo hướng: Chỉ áp dụng cơ chế bảo lãnh doanh thu tối thiểu đối với những dự án phục vụ mục tiêu an sinh xã hội với hiệu quả đầu tư và lợi nhuận thấp, khó có khả năng thu hút được nhà đầu tư. Theo đó, cần ban hành quy định chi tiết, cụ thể các nguyên tắc đối tượng, phạm vi và mức bảo lãnh doanh thu áp dụng cho từng dự án, lĩnh vực đầu tư nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước. Ưu tiên áp dụng cơ chế hỗ trợ doanh thu theo hướng tạo hành lang chính sách linh hoạt, tọa điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dự án triển khai, thực hiện đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra của dự án.
    Không áp dụng bảo lãnh doanh thu tối thiểu đối với những dự án mang lại lợi ích kinh tế lớn phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với hiệu quả đầu tư và lợi nhuận cao, có khả năng thu hút được nhà đầu tư. Đối với những dự án này, người quyết định đầu tư và nhà đầu tư cần phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lương, cụ thể về tính khả thi, phương án tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án mang lại trước khi thực hiện đầu tư, triển khai dự án.
    Về bảo lãnh ngoại tệ, Bộ Xây dựng đề xuất áp dụng cơ chế về bảo lãnh ngoại tệ do đây là một trong những rủi ro thuộc phạm vi trách nhiệm của Chính phủ trong thực hiện quản lý Nhà nước về chính sách và thị trường tiền tệ. Theo đó, Bộ Xây dựng đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính nghiên cứu, đánh giá kỹ lương về các trường hợp được bảo lãnh, phạm vi bảo lãnh, các yếu tố định lượng và trị số khi áp dụng bảo lãnh về tỷ giá cũng như đối với lượng ngoại tệ có thể chuyển đổi.
    Về bảo lãnh vốn vay, tương tự như nội dung bảo lãnh doanh thu tối thiểu, Bộ Xây dựng đề xuất nghiên cứu xây dựng cơ chế bảo lãnh vốn vay theo hướng: Chỉ áp dụng cơ chế bảo lãnh vốn đối với những dự án phục vụ mục tiêu an sinh – xã hội với hiệu quả đầu tư và lợi nhuận thấp, khó có khả năng thu hút nhà đầu tư, gây khó khăn cho nhà đầu tư quá trình vay vốn, huy động tài chính; Không áp dụng bảo lãnh vốn vay đối với những dự án mang lại lợi ích kinh tế lớn phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội với hiệu quả đầu tư và lợi nhuận cao, có khả năng thu hút nhà đầu tư tiềm năng, có năng lực tài chính tốt.

    Quyết toán công trình dự án PPP


    Tại giai đoạn tiền hợp đồng, người quyết định đầu tư và nhà đầu tư đã phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lương về hiệu quả kinh tế, chi phí cần thiết để thực hiện triển khai trong suốt toàn bộ vòng đời của dự án đảm bảo chất lượng, yêu cầu của công trình, dịch vụ cung cấp; sau khi ký kết hợp đồng việc quyết toán công trình thực hiệ theo các điều khoản của hợp đồng đã ký kết giữa các bên.
    Trên có sở đó, Bộ Xây dựng đề xuất việc quyết toán công trình dự án PPP sẽ được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định hiện tại về quyết toán công trình và dự án sử dụng vốn Nhà nước. Theo đó, việc quyết toán sẽ được thực hiện giữa người quyết định đầu tư và nhà đầu tư trên cơ sở tuân thủ với các điều khoản quy định tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên, không trái với hồ sơ thầu và quy định của Nhà nước áp dụng cho hợp đồng; chỉ nghiệm thu về chất lượng công trình, dịch vụ trừ trường hợp trong hợp đồng đã ký quy định khác.
    Các Bộ, ngành phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng, ban hành các quy định riêng để thực hiện quyết toán các dự án đặc thù đầu tư theo hình thức PPP thuộc lĩnh vực phụ trách trong trường hợp cần thiết. Ngoài ra, Bộ Xây dựng đề xuất cần nghiên cứu thêm nội dung về quyết toán đối với dự án đối ứng trong trường hợp thực hiện đấu thầu, đấu giá đồng thời.

    Trách nhiệm của các cơ quan hậu kiểm


    Nội dung này thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ nên Bộ Xây dựng không có ý kiến đối với nội dung này.

    Hoạt động của doanh nghiệp dự án


    Bộ Xây dựng thống nhất với quan điểm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc doanh nghiệp dự án PPP chỉ nên được thành lập để triển khai, vận hành duy nhất một dự án PPP và/hoặc các hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu thực hiện dự án (ví dụ như cây xăng, trạm nghỉ của các tuyến đường cao tốc…), không được đăng ký kinh doanh các ngành nghề khác với mục tiêu dự án. Thêm vào đó, cần xác định rõ vai trò, chức năng của doanh nghiệp dự án, tránh tình trạng doanh nghiệp dự án là ngươi sở hữu dự án đầu tư theo hình thức PPP.
    Trên cơ sở đó, việc “phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn chuyển nhượng vốn nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu thực hiện dự án” như đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư là không cụ thể, dễ gây vướng mắc, rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư theo hình thức PPP. Việc phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng vốn sẽ đi kèm với chuyển nhượng quyền sở hữu chuyển nhượng quyền điều hành cũng như những nghĩa vụ về pháp lý đi kèm với việc sở hữu vốn. Điều này sẽ gây ra rủi ro về hoạt động cũng như khó khăn về quản lý hành chính cho cả người quyết định đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình giám sát, quản lý dự án.
    Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, trên cơ sở tham vấn ý kiến của các cơ quan có liên quan, về tính hiệu quả và rủi ro của việc phát hành cổ phiếu để huy động, chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp dự án PPP. Ngoài ra, cần đưa ra quy định cụ thể đối với những trường hợp được huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu do nhà đầu tư khi tham gia vào dự án đã được yêu cầu đảm bảo về năng lực tài chính trong suốt quá trình triển khai xây dựng và vận hành dự án đã được yêu cầu đảm bảo về năng lực tài chính trong suốt quá trình triển khai xây dựng và vận hành dự án đầu tư theo hình thức PPP.
    Ưu đãi miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thế chấp quyền sử dụng đất
    Nội dung này thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bộ Xây dựng đề xuất việc ưu tiên miễn, giảm tiền sử dụng đất phải bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, yêu cầu của hồ sơ thầu, chính sách của Nhà nước về đất đai áp dụng cho dự án.
    Tuyết Hạnh/ báo xây dựng
    hoaiphuong0703 thích bài này.

CHIA SẺ TRANG NÀY